Trang nhất » Kỹ thuật nuôi trồng » Kỹ thuật chăn nuôi

Bò thịt

Thứ hai - 09/07/2012 21:34
Bò thịt

Bò thịt

BÒ : (Bos), chi động vật có vú nhai lại, họ Trâu bò (Bovidae), nay còn lại một loài Bos taurus, trong đó có B Zebu (B u) là tổ tiên của các giống B nuôi hiện nay. B có đặc điểm chung: sừng rỗng, dạ dày 4 túi, bầu vú có núm, dưới cổ có yếm, đuôi dài có túm lông ở mút đuôi. B rừng được thuần hoá thành B nhà khoảng 8 - 7 nghìn năm tCn.
Qua quá trình thuần hoá, B là vật nuôi có nhiều ưu điểm về sinh trưởng và sinh sản: là động vật đơn thai, B cái chửa trung bình 280 ngày, đẻ năm một; với kĩ thuật thụ tinh nhân tạo và công nghệ sinh học (cấy phôi), B có thể sinh đôi, sinh ba. B ăn cỏ là chính (trong khẩu phần ăn, thức ăn thô xanh chiếm 90%, thức ăn tinh 10%), nhưng khả năng tăng trọng một ngày đêm có thể đạt trên 1 kg. B có hệ thần kinh phát triển nên có khả năng thích nghi, chống chịu tốt hơn nhiều loài vật nuôi khác. B động dục quanh năm, nên dễ điều khiển mùa vụ sinh đẻ.

Trên thế giới, B có khoảng hơn 500 giống, tổng số hơn 1.200 triệu con.

Một số giống B được ưa chuộng hiện nay: B Sarôle là giống B thịt chuyên dụng của Pháp; B Jơxy là giống B sữa có nguồn gốc từ đảo Jơxy (Anh), thích hợp với điều kiện nhiệt đới; B Xin thuộc nhóm B Zebu, xuất xứ từ tỉnh Xin (Sindh; Pakixtan), đã được lai với giống Việt Nam thành     B lai Xin, có năng suất thịt, sữa cao hơn giống địa phương; B sữa giống Hà Lan (B Hônxtainơ - Friexian); B nâu Thuỵ Sĩ (bò Brao Xuyt) kiêm dụng thịt sữa. Xt. Trâu bò.

Chọn và tạo giống bò thịt

Chọn giống bò thịt:

Bò nội có ưu điểm là thích nghi với khí hậu nóng ẩm, phù hợp với tập quán nuôi tận dụng, chịu được kham khổ nhưng tầm vóc lại nhỏ, tăng trọng chậm, tỷ lệ thịt xẻ thấp.

Để chăn nuôi bò thịt đạt hiệu quả cao nên lai tạo giống nhằm tạo ra nguồn giống có ưu thế về năng suất và trọng lượng, lại phù hợp với điều kiện, tập quán chăn nuôi của từng địa phương.
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các nhà khoa học khuyến cáo cho nông dân sử dụng các giống bò có năng suất cao để phối giống cho đàn bò cái nội sinh sản để từng bước nâng cao tầm vóc, trọng lượng và sức sản xuất của con lai.

Chọn giống:

- Chọn nhóm bò lai Zebu (gồm 3 con giống chính: bò Sind, bò Sahiwal và bò Brahman). Đây là những giống bò xuất phát từ những nước nhiệt đới, có khả năng chống chịu được với khí hậu ở Việt Nam.
- Bò Sind: có lông màu cánh gián, con đực trưởng thành nặng 450-500kg, con cái nặng 320-350kg. Khối lượng sơ sinh 20-21kg, tỷ lệ thịt xẻ 50%, phù hợp với điều kiện chăn nuôi chưa đảm bảo thường xuyên về thức ăn xanh và hạn chế nguồn thức ăn tinh.
- Bò Sahiwal: ngoại hình gần giống bò Sind nhưng tầm vóc cao hơn. Con đực trưởng thành nặng 500-550kg, con cái nặng 400kg, phù hợp với điều kiện chăn nuôi trung bình tức là đảm bảo tương đối đầy đủ lượng thức ăn tinh và thức ăn xanh.
- Bò Brahman: được nuôi rộng rãi ở nhiều nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Có màu lông trắng xám hoặc đỏ. Ngoại hình chắc, hệ cơ phát triển, tai to cụp xuống. Con đực trưởng thành nặng 600-700kg, con cái nặng 380kg, tỷ lệ thịt xẻ đạt 52,5%. Bò này yêu cầu cao về lượng thức ăn thô xanh và thức ăn tinh vì vậy thích hợp với những nơi có điều kiện chăn nuôi tốt, am hiểu về kỹ thuật chăn nuôi, hiệu quả kinh tế rất cao.
Ngoài 3 giống trên, nguồn giống khác được tạo ra từ đàn bò sữa cũng đem lại hiệu quả cao trong chăn nuôi bò thịt.
Để chủ động giống trong chăn nuôi bò thịt nên nuôi bò sinh sản để lai tạo giống nhằm cho ra giống bò thịt hiệu quả nhất và phù hợp với điều kiện chăn nuôi.

Tạo giống:

Muốn tạo giống phát triển đàn bò thịt, trước hết phải tạo đàn bò cái giống để làm nền cho lai tạo với giống bò đực có tầm vóc lớn hơn và giống bò Vàng của Việt Nam là thích hợp nhất vì nó thích nghi với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu được mức độ nuôi dưỡng kém, chống chịu được nhiều loại bệnh tật, ký sinh trùng, mắn đẻ nhưng tầm vóc nhỏ bé.
Người ta lấy bò cái Vàng làm nên cho lai với đực giống Zebu tạo ra con lai F1. Tiếp tục lấy con lai F1 cho lai tiếp với đực Zebu tạo ra con lai F2. Con lai F2 này được dùng làm giống để phát triển đàn bò thịt chất lượng cao.
Để giảm tỷ lệ rủi ro cho chăn nuôi bò sinh sản nên chọn con có trọng lượng từ 160kg trở lên, ngoại hình đẹp, tính hiền lành, mắn đẻ, phàm ăn, không có vú lép, mông nở. Việc phối giống phải thông qua các kỹ thuật viên cơ sở.

Nuôi dưỡng chăm sóc vỗ béo theo giai đoạn

* Giai đoạn nuôi lớn - từ 6 - 21 tháng tuổi:


   Trong giai đoạn này bê non hoàn thiện các cơ quan nội tạng, phát triển mạnh các chiều cơ thể và tăng trọng nhanh. Chính vì vậy, cần cung cấp cho bê các loại thức ăn nhiều protein như cỏ họ đậu (cỏ stylo, lá keo dậu...), khô dầu, bột cá và nếu cần thiết, có thể bổ sung thêm urê vào khẩu phần dưới các dạng khác nhau. Hàng ngày chăn thả bê non trên bãi hoặc trên cánh đồng 8-10 giờ, để bê có thể tận dụng được nhiều cỏ tươi, đồng thời bê có điều kiện vận động dưới nắng ấm, cơ thể tổng hợp được nhiều vitamin D làm cho bộ xương phát triển vững chắc.

* Giai đoạn vỗ béo - từ 22 đến 24 tháng tuổi:
   Nuôi vỗ béo, là một phương thức chăn nuôi thâm canh được áp dụng trong một thời gian ngắn trước khi giết thịt nhằm đạt mức tăng trọng cao, tích luỹ mỡ nhanh, giảm chi phí sản xuất, đồng thời cải thiện chất lượng thịt và tăng hiệu quả chăn nuôi.

Hiệu quả vỗ béo bò thịt phụ thuộc vào:

- Tuổi vỗ béo: vỗ béo bò ở lứa tuổi còn non cho hiệu quả cao. Bởi vì, bò non có tốc độ lớn nhanh, với bộ răng chắc khoẻ nên khả năng tiêu hoá và đồng hoá thức ăn tốt hơn, khả năng tích luỹ cũng cao hơn. Hơn nữa, vỗ béo ở lứa tuổi còn non cho tỷ lệ thịt sẽ cao, chất lượng và độ mềm của thịt tốt hơn. Có thể bắt đầu đưa vào vỗ béo từ 22 tháng tuổi.

- Giống bò đưa vào vỗ béo: Những giống bò chuyên dụng thịt cho kết quả vỗ béo tốt nhất so với các giống bò kiêm dụng hoặc các giống bò địa phương. Bởi vì, chúng đã được chọn tạo để sản xuất thịt, có khả năng tăng trọng cao và cho tỷ lệ thịt sẽ cao.

- Thức ăn sử dụng để vỗ béo: Có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất vỗ béo và phẩm chất thịt bò. Số lượng và chất lượng thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc vỗ béo. Ngoài ra, kỹ thuật cho ăn và cả phương thức chế biến thức ăn cũng có tác dụng đối với hiệu quả của vỗ béo.

Thông thường, thức ăn của bò vỗ béo bao gồm cỏ tươi, cỏ khô, rơm lúa khô, thức ăn tinh và thức ăn củ quả. Cần cho ăn loại thức ăn tinh giầu năng lượng để giúp cho cơ thể tích luỹ mỡ nhanh và bò chóng béo. Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng gia đình, mỗi ngày có thể cung cấp cho mỗi con bò vỗ béo 1-2kg thức ăn tinh. Trong giai đoạn này cần hạn chế bê non vận động bằng cách chăn thả gần chuồng để tập trung chất dinh dưỡng vào việc tích luỹ mỡ và nâng cao độ béo.

Trong điều kiện của nước ta hiện nay, một số lượng lớn trâu bò sau một thời gian sử dụng không còn khả năng sinh sản, làm việc được nữa và được giết thịt. Loại trâu bò này thường gầy yếu, tỷ lệ thịt sẽ thấp và chất lượng thịt không cao, nếu không được vỗ béo trước khi giết mổ. Vỗ béo loại trâu bò này để làm sao sau giai đoạn vỗ béo khối lượng cơ thể tăng 15-20%. Phương thức chăn nuôi chủ yếu là chăn thả trên đồng bãi, kết hợp với thêm cỏ, rơm và thức ăn tinh tại chuồng. Đối với các tỉnh phía Bắc, tốt nhất là vỗ béo trâu bò vào mùa Thu, vì lúc này lượng cỏ tươi phong phú, hơn nữa, thời tiết cũng mát mẻ. Còn đối với các tỉnh phía Nam, có thể vỗ béo trâu bò quanh năm, nhưng vỗ béo vào mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 10 là kinh tế nhất. Thời gian vỗ béo loại trâu bò này thường là 3 tháng:

- Tháng thứ nhất: tiến hành dọn vệ sinh chuồng trại, tẩy giun sán cho trâu bò và cho ăn đủ rơm, cỏ. Đối với những con gầy yếu thì cho ăn thêm các loại thức ăn giàu đạm để nhanh chóng phục hồi cơ thể, tạo đà cho những tháng tiếp theo.

- Tháng thứ hai: chăn thả gần, cho ăn cỏ thoả mãn, tăng lượng thức ăn tinh, bảo đảm đủ nước uống.

- Tháng thứ ba: cung cấp cho trâu bò loại thức ăn giàu gluxit, chăn thả gần chuồng để hạn chế tiêu hao năng lượng và tăng tích luỹ mỡ.
Người ta đều biết rằng trâu bò là con vật sử dụng có hiệu quả thức ăn thuộc tất cả các loại hệ thống nuôi dưỡng. Trong điều kiện chăn nuôi gia đình ở nước ta có hai cách vỗ béo thích hợp là:

- Vỗ béo bằng chăn thả: chăn thả trâu bò trên bãi chăn 8-10 giờ mỗi ngày để tận dụng cỏ tươi mà không tốn công phu cắt và vận chuyển về chuồng. Ban đêm bổ sung thêm thức ăn tinh và muối ăn. Cách vỗ béo này áp dụng cho những nơi có đồng bãi chăn thả rộng và năng suất cỏ tươi tương đối khá, bảo đảm cho trâu bò mỗi ngày thu lượm được 20-25kg cỏ tươi.

- Vỗ béo bằng hình thức bán chăn thả: áp dụng cho những nơi ít bãi chăn (như vùng đồng bằng, vùng ven đô, khu công nghiệp). Trâu bò chỉ tận dụng được một phần hoặc một nửa khẩu phần thức ăn trên bãi chăn. Phần còn lại phải bổ sung tại chuồng nuôi, trong đó phải lưu ý đến thức ăn tinh.

Dù áp dụng phương thức vỗ béo nào và với đối tượng trâu bò nào, việc bảo đảm nước uống cho trâu bò là rất cần thiết, đặc biệt là vào mùa khô hanh. Luôn luôn phải bảo đảm cho trâu bò có nước uống sạch sẽ và cho uồng không hạn chế. Thiếu nước sẽ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất và dẫn đến giảm khối lượng cơ thể.

 


Nguồn tin: Theo TT Tin học thống kê - Bộ Nông nghiệp

QC510x90
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Tin mới nhất

 
QC190x600